Phương pháp đầu tư quyền chọn nhị phân

Q1.2020: Đẩy mạnh việc mở rộng vào các ngành công nghiệp khác sử dụng Refereum. Bắt đầu với các ngành giới thiệu có tính sử dụng cao khác (từ dapps sang thời trang) Refereum sẽ nhanh chóng mở rộng lưu lượng phương pháp đầu tư quyền chọn nhị phân truy cập liên kết cho bất kỳ ngành nào.

Điều cần biết khi đầu tư chứng khoán

Investopedia có rất nhiều thứ: từ bài học vỡ lòng đến nâng cao về các khái niệm kinh tế và đầu tư cho đến những lời khuyên về tài chính cá nhân. Thậm chí trang web này được nhiều người coi là một “bách khoa toàn thư” về đầu tư. Các điều trên ảnh hưởng rất nhiều đến quá trình giao dịch của nhà đầu tư. Vì vậy, hãy tránh những điều này nếu như bạn muốn thành công trong lĩnh vực hoặc ít nhất cũng có thể hạn chế được các rủi ro cho bản thân.

Phương pháp đầu tư quyền chọn nhị phân: Chiến lược kinh doanh tùy chọn nhị phân tại Việt Nam

Tùy chọn nhị phân là một dạng giao dịch trao phương pháp đầu tư quyền chọn nhị phân đổi có định hướng và đặc thù riêng của nó. Nó khác biệt đáng kể so với các nền tảng như Forex và những cái khác. Đồng thời, nó mang lại cho bạn cơ hội kiếm tiền tốt nếu bạn nghiêm túc tiếp cận với nó. Thành thật mà nói, việc trao đổi này được sử dụng cho nhiều hoạt động đầu cơ hàng hóa, tiền tệ cũng như cổ phiếu. Tâm lý giao dịch trong mô hình Đỉnh đầu 2 vai được giải thích như sau: Mô hình Đỉnh đầu 2 vai (mô hình Head and Shoulders) xuất hiện trong một xu hướng tăng, khi vai trái đã tạo thành một đỉnh cao hơn cho xu hướng tăng đó. Đáy đầu tiên sau vái trái chỉ là một sự hồi lại đã được dự kiến trong một xu hướng tăng. Từ đó giá tiếp tục theo hướng tăng và tạo ra thêm một đỉnh (tạo ra phần đầu). Cho đến giờ, mô hình đầu vai thật ra không hoàn toàn là mô hình một đầu và hai vai; nó chỉ là một đỉnh cao hơn, với một khoảng hồi giảm ngắn và một đỉnh thứ hai cao hơn nữa trong một xu hướng tăng. Tuy nhiên, vấn đề bắt đầu phát sinh tại đáy thứ hai hay vai phải.

Cho tới giờ phút này, tôi vẫn chưa tìm dc một ng nào để tôi ủng hộ, tôn vinh, thần phục, tâm phục khẩu phục cả, ng đó phải là chống cộng, chủ trương lật đổ CSVN sớm nhất có thể, ko Hòa Giải Hòa Hợp với CSVN, tôn vinh cờ vàng, 2 cụ Diệm Nhu, mô hình VNCH với cập nhật thời hiện đại, dĩ nhiên DC, NQ, Đa Đảng, tam quyền phân lập và tất cả những tự do mà Úc Mỹ viết trong hiến Pháp của họ (wriiten into their Constitution)

market : Thị tr−ờng chứng khoán.” Đây không phải là định nghĩa khoa học nói lên bản 1 Nhà xuất bản khoa học xã hội năm 1975 11 chất của chứng khoán, mà chỉ giải thích theo ngôn ngữ thông th−ờng bên ngoài của khái niệm chứng khoán. Trong từ điển điện tử Lạc Việt cũng định nghĩa chữ Security nh− sau: 1. sự an toàn 2. Sự an ninh 3. sự đảm bảo; vật đảm bảo; vật thế chấp 4. (số nhiều) Tài liệu hoặc giấy chứng nhận cho biết ai là sở hữu chủ của cổ phiếu, cổ phần, trái khoán, chứng khoán.” Định nghĩa này đã phần nào đi vào bản chất của chứng khoán, nhất là thiếu mảng chứng khoán phái sinh. Trong nghị định 144/2003/NĐ-CP có định nghĩa 2 : “1. Chứng khoán là chứng chỉ hoặc bút toán ghi sổ, xác nhận các quyền và lợi ích hợp pháp của ng−ời sở hữu chứng khoán đối với tài sản hoặc vốn cuả tổ chức phát hành : 1. Cổ phiếu 2. Trái phiếu 3. Chứng chỉ quỹ đầu t− 4. Các chứng khoán khác theo quy định của pháp luật.” Và sau đó là định nghĩa hai chứng khoán phái sinh : “2. Chứng quyền là loại chứng khoán đ−ợc phát hành kèm theo trái phiếu hoặc cổ phiếu −u đãi, cho phép ng−ời nắm giữ chứng khoán đó đ−ợc quyền mua một khối l−ợng cổ phiếu phổ thông nhất định theo mức giá đã đ−ợc xác định tr−ớc trong thời kỳ nhất định. 3. Quyền mua cổ phần là loại chứng khoán ghi nhận quyền dành cho các cổ đông hiện tại của một công ty cổ phần đ−ợc mua tr−ớc một số l−ợng cổ phần trong đợt phát hành cổ phiếu phổ thông mới t−ơng ứng với tỷ lệ cổ phần hiện có của họ trong công ty.” Định nghĩa trên là định nghĩa dạng thô, định nghĩa quyền mua cổ phần (right) của Nghị định 144 thiếu yếu tố đặc tr−ng về giá đó là giá này thấp hơn giá thị tr−ờng hiện tại của cổ phiếu. Mục tiêu đ−a ra các khái niệm này là chỉ nhằm giúp chúng ta hiểu khái niệm trong Nghị định và chỉ bao gồm những chứng khoán điều chỉnh bằng pháp luật, còn các chứng khoán khác thì không, ví dụ chứng nhận sở hữu ở một công ty trong mô hình công ty trách nhiệm hữu hạn chẳng hạn. Rõ ràng đây là một chứng khoán về vốn chủ sở hữu. Bên cạnh đó định nghĩa trên cũng cũng ch−a làm rõ bản thân cổ phiếu là gì? trái phiếu là gì? chứng chỉ quỹ đầu t− là gì ? và ch−a định nghĩa theo bản chất một cách khoa học mà chỉ liệt kê các loại chứng khoán để ng−ời đọc dễ hiểu. Đặc biệt là khái niệm các chứng khoán khác theo quy định của pháp luật : Pháp luật nào quy định, chứng khoán gì cũng ch−a rõ. Vì vậy đây cũng không phải là định nghĩa khoa học và đầy đủ của chứng khoán. Trong giáo trình “ Những vấn đề cơ bản về chứng khoán và thị tr−ờng chứng khoán “3 của ủy ban Chứng khoán Nhà n−ớc và đặc biệt trong ch−ơng 2 Khoản 1 điều 3 3 Nhà xuất bản chính trị quốc gia. Hà nội năm 2002 12 Chứng khoán cũng đ−ợc định nghĩa không thực sự khoa học ngay từ đầu : “ Chứng khoán là hàng hóa của thị tr−ờng chứng khoán . Đó là những tài sản tài chính vì nó mang lại thu nhập và khi cần ng−ời sở hữu nó có thể bán nó để thu tiền về . ….Nói chung ng−ời ta phân chia chứng khoán thành 4 nhóm chính là cổ phiếu, trái phiếu, các công cụ chuyển đổi và các công cụ phái sinh” (Tài liệu đã dẫn trang 72). Định nghĩa này cũng ch−a nói lên bản chất gốc của chứng khoán, mà chỉ đi quan sát phần “ngọn” của vấn đề. Mục tiêu khi đ−a ra khái niệm này chỉ để giúp ng−ời tham gia thị tr−ờng hiểu khái niệm chứng khoán và lợi ích của họ khi tham gia thị tr−ờng và cũng không phải là định nghĩa khoa học của chứng khoán. Trong đinh nghĩa trên nhiều khi ch−a chính xác vì trong thị tr−ờng l−u thông kém, hoặc chứng khoán kém giá trị, thậm chí giá trị âm thì ng−ời sở hữu nó không thể bán nó để thu tiền về nh− trong định nghĩa và trong tr−ờng hợp này không có nghĩa là nó không phải chứng khoán. Trong cuốn từ điển tài chính và đầu t− của John Downes và Jordan Elliot Goodman4 có định nghĩa : “ Security : - Finance : collateral offered by a debtor to a lender to secure a loan called collateral security. For instance, the security behind the mortgage loan is real estate being purchused with the process of loan. If the debt is not paid, the lender may seize the security and resell it – Personal security : refers to one person or firm’s guarantee of another’s primary obligation.- Investment: instrument that signifies an ownership position in a corporation (a stock), creditor with a corporation or governmental body (a bond), or right to ownership such us those represented by an option, subscription right and subscription warrant “. Định nghĩa sau của Đặng Quang Gia đã dịch từ từ điển đã nêu trên : Trong cuốn “ Từ điển thị tr−ờng chứng khoán “ của tác giả này5 có định nghĩa Security nh− sau : “ Tài chánh : vật thế chấp do ng−ời nợ giao cho ng−ời cho vay để đảm bảo số nợ, nó đ−ợc gọi là thế chấp đảm bảo Collateral Security. Thí dụ, vật bảo đảm cho tiền vay có thế chấp là bất động sản đang đ−ợc mua bằng tiền vay. Nếu không trả đ−ợc nợ , ng−ời cho vay có thể giữ bất động sản bảo đảm đó và bán đi.Cá nhân đảm bảo (personal security) ám chỉ một ng−ời hay một công ty đảm bảo cho số nợ cam kết đầu tiên của một ng−ời khác. Đầu t−: công cụ cho biết có một vị thế sở hữu trong công ty (chứng khoán), một chủ nợ có liên hệ với một công ty hay một bộ phần nhà n−ớc (trái phiếu), hay có quyền về sở hữu trong các công cụ tiêu biểu bằng hợp đồng Option, quyền đăng ký mua, chứng chỉ đặc quyền chứng chỉ mua” Trong định nghĩa trên đã đến gần hơn với bản chất của chứng khoán. Nó đã nói đến chứng chỉ, công cụ bảo đảm quyền của ng−ời sở hữu và có ghi nghĩa vụ của ng−ời phát hành chứng chỉ đó đối với ng−ời sở hữu nó. Theo tôi đây là định nghĩa tốt nhất về chứng khoán. 4 Dictionary of Finance and Investment Terms – USA- 1995 p. 518-519 5 Nhà xuất bản Thống kê - 1998 trang 927 13 Qua nghiên cứu các tài liệu trên, tác giả của đề tài này cảm thấy những đặc điểm mà một chứng khoán cần phải có là : - Là một chứng chỉ, công cụ tài chính - Đảm bảo (security) cho ng−ời sở hữu nó có quyền gì đó đối với ng−ời phát hành (không nhất thiết là tổ chức nh− Nghị định 144). - Có hai loại chứng khoán quan trọng nhất là chứng khoán vốn (cổ phiếu) và chứng khoán nợ (trái phiếu) Kết hợp những đặc điểm đó với những đặc điểm của các công cụ bút toán, l−u ký hiện đại đề tài này đ−a ra một định nghĩa khoa học hơn về chứng khoán nh− sau : Định nghĩa đầy đủ của chứng khoán : Chứng khoán là chứng chỉ vật chất, bút toán ghi sổ hoặc bút toán điện tử, là công cụ tài chính chứng nhận quyền sở hữu hợp pháp, quyền chủ nợ hoặc các quyền hợp pháp khác nh− quyền mua, quyền bán trong hợp đồng t−ơng lai, hợp đồng quyền chọn …vv của ng−ời sở hữu nó đối với ng−ời phát hành. Định nghĩa này đi vào bản chất của chứng khoán hơn. Chứng khoán đ−ợc hiểu nh− một vật đảm bảo (security) quyền của ng−ời sở hữu nó đối với đơn vị phát hành. Ng−ời phát hành ở đây có thể là pháp nhân, tổ chức và cũng có thể là cá nhân. Theo định nghĩa trên đây, chúng ta có thể liệt kê các loại chứng khoán nh− sau - Chứng khoán vốn sở hữu nh− cổ phiếu của công ty cổ phần, chứng chỉ góp vốn vào quỹ đầu t−, vào công ty trách nhiệm hữu hạn nhiều thành viên, vốn góp chung vào các vụ liên doanh, ví dụ vốn góp để mở một cửa hàng (ch−a phải là công ty) …. vv…..Chứng khoán vốn sở hữu theo định nghĩa này còn bao gồm cả di chúc của ng−ời cha cho các con, hay giấy chứng nhận biếu tặng sau khi mất, hoặc hợp đồng chăm sóc ng−ời già để h−ởng gia sản còn hiệu lực sau khi ng−ời đ−ợc chăm sóc đã qua đời. Đơn vị “ phát hành” trong tr−ờng hợp sau trên đây là ng−ời viết di chúc, ng−ời biếu, tặng, hay ng−ời ký hợp đồng chăm sóc tuổi già. Nguời sở hữu các chứng chỉ đã kể có quyền sở hữu tài tản của ng−ời “phát hành”. Nói chung đây là các chứng chỉ, công cụ công nhận quyền sở hữu của ng−ời có nó đối với ng−ời phát hành. - Chứng khoán vốn vay nh− các loại trái phiếu (trái phiếu chính phủ, trái phiêú công ty, trái phiếu công trình). Chứng khoán vốn vay còn bao gồm cả những chứng chỉ vay khác nh− sổ tiết kiệm, giấy báo số d− tài khoản và ngay cả thẻ tín dụng cũng là chứng chỉ vật chất chứng nhận quyền rút tiền (đòi nợ) của ng−ời sở hữu đối với đơn vị phát hành là ngân hàng. Tuy nhiên trong lĩnh vực thẻ tín dụng còn có thể có hợp đồng ng−ời có thẻ có thể tiêu vào tiền của ngân hàng khi số d− ít hơn nhu cầu chi. Trong tr−ờng hợp này 14 ng−ời sở hữu chứng khoán (thẻ) có vốn vay âm (< 0) và tình thế đảo ng−ợc. Ngoài ra trong xã hội còn rất nhiều loại chứng chỉ vay, cho vay khác và chúng đều là chứng khoán nợ. Ví dụ tôi th−ờng xuyên ăn ở một nhà hàng và ăn xong lại ký nợ vào một trang của quyển sổ của nhà ăn, thì trang sổ đó cũng là chứng khoán nợ. Thị tr−ờng mua bán nợ hiện nay đang đ−ợc chú ý phát triển ở n−ớc ta và theo nh− lý luận trên đây thì thị tr−ờng này là một bộ phận của thị tr−ờng chứng khoán. Theo định nghĩa nêu trên tín phiếu kho bạc ngắn hạn cũng là trái phiếu, là chứng khoán vì nó hội đủ các tiêu chuẩn của một chứng khoán theo định nghĩa trên đây. Nhìn chung đây là chứng chỉ, công cụ chứng nhận ng−ời “ phát hành” có nghĩa vụ nợ đối với ng−ời sở hữu nó. - Chứng khoán khác nh− : + Quyền mua cổ phiếu (right): Quyền đ−ợc mua cổ phiếu th−ờng của một công ty trong một đợt phát hành cổ phiếu mới. Quyền này phát hành cho những cổ đông hiện hữu theo tỷ lệ vốn cổ phần của họ trong công ty và thời gian thực hiện quyền th−ờng ngắn (thông th−ờng tối đa là 3 tháng). Gía bán cổ phiếu mới theo quyền thấp hơn giá thị tr−ờng hiện tại của nó. Ví dụ vừa qua công ty Haphaco đã phát hành thêm 1 triệu cổ phiếu, ng−ời sở hữu 1 cổ phiếu cũ có một quyền mua một cổ phiếu mới và thời gian thực hiện quyền này trong 3 tháng. Giá mua cổ phiếu mới theo quyền là 32 000đ trong khi đó giá thị tr−ờng của cổ phiếu này lúc phát hành quyền là khoảng 50 000đ + Chứng quyền (warrant) là loại chứng khoán th−ờng đ−ợc phát hành kèm theo trái phiếu hoặc cổ phiếu −u đãi, cho phép ng−ời nắm giữ chứng quyền đó đ−ợc quyền mua một khối l−ợng cổ phiếu phổ thông nhất định theo mức giá đã đ−ợc xác định tr−ớc trong thời kỳ nhất định. Thời kỳ đó th−ờng t−ơng đối dài có khi là một năm, có khi vài năm, dăm năm (nh−ng th−ờng lớn hơn 3 tháng). Mức giá xác định th−ờng cao hơn giá hiện tại của cổ phiếu đó. + Quyền chọn : (option) Chúng ta phân biệt quyền chọn mua và quyền chọn bán. Là thoả thuận để ng−ời có quyền đ−ợc tự do lựa chọn mua (bán) một loại hàng hoá (chứng khoán) trong một thời kỳ trong t−ơng lai định tr−ớc với một số l−ợng quy định và theo giá thoả thuận tr−ớc . Theo nghĩa này thì right và warrant đều là quyền chọn. + Hợp đồng t−ơng lai (futures) là hợp đồng ký thoả thuận tr−ớc về việc mua bán một loại hàng hoá (chứng khoán) trong t−ơng lai với số l−ợng và giá cả đ−ợc quy định khi ký hợp đồng. Hợp đồng t−ơng lai th−ờng đ−ợc chuẩn hóa và giao dịch sôi động ở các thị tr−ờng chứng khoán. Các loại chứng khoán kể trên sẽ đ−ợc nghiên cứu kỹ trong các phần sau. Nh−ng chúng ta cũng cần nói thêm rằng còn nhiều “chứng khoán” khác theo khái niệm chứng khoán mà đề tài này đề xuất. Vi dụ – Vé xổ số cũng có thể đ−ợc coi là chứng khoán vì nó là chứng chỉ vật chất chứng nhận quyền của ng−ời sở hữu nó có quyền dùng nó để lĩnh th−ởng từ đơn vị phát hành khi trúng số. T−ơng tự một nắp chai bia báo trúng th−ởng ô tô BMW cũng là một chứng 15 khoán vì nó cũng là chứng chỉ vật chất chứng nhận quyền của ng−ời có nó đối với hãng bia Tiger (đơn vị phát hành). Nhìn chung là công cụ, chứng chỉ công nhận một quyền gì của ng−ời sở hữu nó đối với ng−ời phát hành đều là chứng khoán theo định nghĩa mà chúng ta đã nêu ra. Nh− vậy khái niệm chứng khoán theo định nghĩa trên t−ơng đối rộng so với cách hiểu hiện nay. Nếu vậy, thị tr−ờng chứng khoán cũng đ−ợc hiểu rộng hơn và nó là thị tr−ờng của tất cả chứng khoán nh− đã liệt kê trên đây. Ví dụ thị tr−ờng vé xổ số cũng thuộc phạm trù thị tr−ờng chứng khoán, vì vé xổ số cũng là chứng khoán, thị tr−ờng này chỉ có thị tr−ờng sơ cấp là chính, thị tr−ờng thứ cấp cũng có, (ví dụ ng−ời ta săn lùng mua vé trúng th−ởng để hợp thức hoá thu nhập bất chính) nh−ng không đáng kể. Thị tr−ờng tín phiếu kho bạc ngắn hạn cũng t−ơng tự là thị tr−ờng chứng khoán, vì tín phiếu kho bạc cũng là chứng khoán. Thị tr−ờng chứng khoán mà chúng ta th−ờng hiểu chỉ là một mảng trong tổng thể thị tr−ờng chứng khoán theo định nghĩa trên đây. Đó là thị tr−ờng chứng khoán của các công cụ tài chính có thời hạn trên một năm hoặc thị tr−ờng chứng khoán tập trung. Trên đây là định nghĩa đầy đủ của chứng khoán. Những chứng khoán có thời hạn ngắn hơn 1 năm (nh− tín phiếu kho bạc) th−ờng đ−ợc giao dịch trên thị tr−ờng tiền tệ. Những chứng khoán không chuẩn hoá, nh− chứng chỉ công nhận tiền góp vào công ty trách nhiệm hữu hạn (có thể gọi là công cụ chứng khoán)…thì không thể giao dịch trên thị tr−ờng chứng khoán tập trung. Bởi vậy chúng ta có thể đ−a ra một định nghĩa hẹp, dễ hiểu về chứng khoán nh− tinh thần Nghị định 144 : Định nghĩa đơn giản về chứng khoán: Chứng khoán là chứng chỉ vật chất, bút toán ghi sổ, hoặc bút toán điện tử xác nhận các quyền và lợi ích hợp pháp của ng−ời sở hữu chúng đối với tài sản hoặc vốn cuả tổ chức phát hành, bao gồm : • Cổ phiếu • Trái phiếu • Chứng chỉ quỹ đầu t− • Chứng khoán phái sinh, nh− Chứng quyền, Quyền mua cổ phần, Hợp đồng quyền chọn, Hợp đồng t−ơng lai…vv Nhìn chung chứng khoán có thời hạn dài hơn 1 năm và có thể giao dịch đ−ợc tại các Sở giao dịch tập trung. 1.1.2. Công cụ phái sinh và chứng khoán phái sinh. Trong tài liệu tham khảo (1) đã nghiên cứu khá kỹ về các công cụ phái sinh. Chúng ta hiểu công cụ phái sinh là công cụ xuất phát từ công cụ gốc nào 16 đó. Theo tổng kết của tài liệu đã dẫn thì các công cụ phái sinh có thể đ−ợc tổng kết trong bảng sau:6 Biểu 1.1 : Các công cụ phái sinh Tài sản cơ sở (Underlying Asset) Hợp đồng t−ơng lai (Futures) Quyền chọn (Option) Hợp đồng hoán đổi (Swaps) Hợp đồng kỳ hạn (Forward) Sản phẩm tổng hợp (Synthetic Product) Tiền gửi (Deposit) Hợp đồng t−ơng lai lãi suất Mũ, sàn và cổ (caps, floors, collars) Hoán đổi lãi suất Kỳ hạn lãi suất Quyền chọn về hợp đồng t−ơng lai lãi suất, hợp đồng hoán đổi Trái phiếu Hợp đồng t−ơng lai trái phiếu Quyền chọn trái phiếu (tiền mặt) Quyền chọn về hợp đồng t−ơng lai trái phiếu Ngoại tệ Hợp đồng t−ơng lai tiền tệ Quyền chọn tiền tệ Hoán đổi tiền tệ Kỳ hạn trao đổi ngoại tệ Quyền chọn về hợp đồng t−ơng lai tiền tệ, hợp đồng hoán đổi tiền tệ Vốn, cổ phiếu Hợp đồng t−ơng lai chỉ số vốn; Hợp đồng t−ơng lai về cổ phiếu khác7 Quyền chọn vốn Hoán đổi vốn Quyền chọn về hợp đồng t−ơng lai chỉ số vốn, hợp đồng t−ơng lai mua bán cổ phiếu Hàng hoá Hợp đồng t−ơng lai hàng hoá Hoán đổi hàng hoá Quyền chọn về hợp đồng t−ơng lai hàng hoá 6 Tài liệu (1) trang 4,5 7 Phần chữ nghiêng là phần đ−a thêm của đề tài này. 17 Nh− vậy, khái niệm công cụ phái sinh khá rộng bao gồm cả công cụ phái sinh từ những tài sản không phải là chứng khoán và chứng khoán. Nhờ phái sinh chúng mới trở thành loại chứng khoán đặc biệt. Theo nghĩa rộng, theo định nghĩa chứng khoán ta đã có ở phần tr−ớc thì tất cả công cụ phái sinh đều là chứng khoán và là chứng khoán phái sinh. Bởi vì thông th−ờng chúng là chứng chỉ vật chất, bút toán ghi sổ và hiện nay có thể là bút toán điện tử (khi hợp đồng có thể ký nhờ ph−ơng tiện điện tử) đảm bảo cho ng−ời sở hữu nó có quyền gì đó đối với ng−ời phát hành. Trong tài liệu đã dẫn (1) 8 đã có định nghĩa về chứng khoán phái sinh: “Chứng khoán phái sinh là một loại công cụ tài chính mà giá trị của nó phụ thuộc vào giá trị của một thứ khác, cơ sở và dễ thay đổi.” “Chứng khoán phái sinh, bản thân nó không có giá trị nội tại , mà giá trị của nó bắt nguồn từ giá trị của một công cụ khác. Giá trị của nó thay đổi cùng với sự thay đổi giá của công cụ cơ sở.” Định nghĩa này là một định nghĩa mang tính khoa học hơn về chứng khoán phái sinh có thể chấp nhận đ−ợc. Tuy vậy, yếu tố “ dễ thay đổi” ch−a thật chính xác vì nếu giá trị chứng khoán gốc (ví dụ trái phiếu) khó thay đổi thì giá trị chứng khoán phái sinh cũng “ khó thay đổi” chứ không luôn luôn “ dễ thay đổi”. Trong cuốn từ điển tài chính và đầu t− của John Downes và Jordan Elliot Goodman9 có định nghĩa công cụ phái sinh : “ Derivative short for devirative instrument, a contract whose value is based on the performance of an underlying financial asset, index, or other investment. For example an ordinary option is a devirative because it’s value changes in relation in the performance of an underlying stock. A more complex example would be an option on a futures contract, where the option vulue varies with the value with the futures contract which, in turn, varies with the value of an underlying commodity or security. Derivatives are available based on the performance of assets, interest rates, currency exchanges rates, and various domestic and foreign indexes. Derivatives afford leverage and, when used properly by knowledgeable investors, can inhance returns, and be useful in hedging portfolios. they gained notoriety in the late ‘80s, however, because of problems involved in program trading, and in the ‘90s, when the mutual funds, municipalities, corporations, and leading banks suffered large losses because unexpected movements in interest rates adversely affected the value of derivatives “. Trong định nghĩa này công cụ phái sinh đ−ợc định nghĩa là một hợp đồng và giá trị của nó phụ thuộc vào tài sản cơ sở. Tài sản cơ sở có thể là tài sản, lãi suất, tỷ giá hối đoái, các chỉ số . Trong cuốn Từ điển Thị tr−ờng chứng khoán của Đặng Quang Gia10 có định nghĩa “ devirative instrument : Công cụ phái sinh . Công cụ tài chính có 8 Tài liệu (1) trang 3 9 Dictionary of Finance and Investment Terms – USA- 1995 p. 136 10 Nhà xuất bản thống kê- 1996 trang 307 18 giá trị dựa trên chứng khoán khác. Ví dụ một hợp đồng Option là một công cụ phái sinh vì giá trị của nó bắt nguồn từ một chứng khoán cơ sở , chỉ số chứng khoán hay hợp đồng futures” . Định nghĩa này coi công cụ phái sinh chỉ bắt nguồn từ chứng khoán. Trong giáo trình đào tạo của Học viện chứng khoán úc về công cụ phái sinh có định nghĩa sau11: “ A derivatives is a date specific contract to buy or sell an underlying physical asset (such us wheat or wool) or , more typically, a finacial instrument (such as an index or stock). The contract (whether it’s a forward, futures or option contract) is derived from underlying asset and therefore would not exist without it. (There are some exceptions to this where there is no underlying asset or finacial instrument such us weather derivaties)”. Trong định nghĩa này công cụ phái sinh (đ−ợc coi là chứng khoán phái sinh trong đề tài này) đ−ợc định nghĩa là một hợp đồng mua bán một hàng hoá cụ thể hay công cụ tài chính có xác định thời gian thực hiện. Nh− vậy, tài sản cơ sở có thể là chứng khoán gốc (cổ phiếu, trái phiếu, chứng khoán khác) hoặc cũng có thể không phải chứng khoán, mà là hàng hoá hoặc ngay cả những sự kiện ngẫu nhiên không có giá trị gì cả, nh− thời tiết chẳng hạn. Ví dụ nh− ng−ời ta có thể ký hợp đồng t−ơng lai mua, bán gạo theo thời tiết “m−a thuận gió hoà” chẳng hạn : Nếu thời tiết không thuận lợi “ M−a không thuận, gió không hoà” ở Phillipin, thì Việt nam sẽ bán cho Phillipin 1 tr. tấn gạo vào tháng 7…vv. Điều kiện ở đây là “ m−a thuận gió hoà” không có giá trị gì cả. Qua nghiên cứu một số tính chất, bản chất, định nghĩa, khái niệm về chứng khoán, công cụ phái sinh và chứng khoán phái sinh nh− trên, chúng ta có thể đi đến định nghĩa chứng khoán phái sinh với nghĩa rộng sau đây: Định nghĩa theo nghĩa rộng của chứng khoán phái sinh : Chứng khoán phái sinh là một loại chứng khoán đặc biệt xuất phát từ một tài sản, công cụ cơ sở và giá trị của nó phụ thuộc vào giá trị, trạng thái của tài sản, công cụ cơ sở đó. Trong định nghĩa trên chúng ta đã kế thừa kết quả nghiên cứu và định nghĩa, khái niệm chứng khoán trong phần tr−ớc của đề tài. Chứng khoán phái sinh tr−ớc tiên phải thoả mãn những đặc điểm của chứng khoán (là chứng khoán) và một số đặc điểm đặc thù của chứng khoán phái sinh. Một ví dụ nhỏ về chứng khoán phái sinh theo định nghĩa này: Ví dụ 1 : Nh− trên ta đã lý luận vé số là một loại chứng khoán. Giả sử tôi ký một hợp đồng mua lại vé trúng th−ởng của một ng−ời chơi xổ số chuyên nghiệp với giá tăng 2%; 5%; 10% so với mức trúng th−ởng của các loại vé trúng th−ởng t−ơng đ−ơng d−ới 100 triệu đồng, trên 100 triệu đồng và d−ới 500 triệu 11 SIA- 5204- Fundamentals of derivatives – Sysney 2003 – p. PR-3 19 đồng, và trên 500 triệu đồng . Hợp đồng này thực chất là hợp đồng t−ơng lai và là một chứng khoán phái sinh vì nó là chứng chỉ vật chất đảm bảo cho tôi đ−ợc mua vé trúng th−ởng của ng−ời chơi xổ số. Hợp đồng này chỉ có giá trị khi ng−ời chơi xổ số có vé đúng số, nếu không đúng thì hợp đồng của tôi không có giá trị. Tức là giá trị hợp đồng phụ thuộc vào giá trị vé số trúng th−ởng của ng−ời chơi xổ số và đây là tài sản cơ sở. Chúng ta có thể hiểu chứng khoán phái sinh qua ví dụ có tính chất so sánh t−ơng tự sau: Cây ký sinh là một sinh vật (hay một loại cây) mà nó lấy n−ớc, dinh d−ỡng từ một cây khác gọi là cây gốc (cơ sở) và đời sống của nó phụ thuộc vào đời sống của cây gốc đó. Nếu theo luồng suy nghĩ này thì chứng khoán phái sinh chỉ có thể là những chứng khoán lấy chứng khoán gốc (cổ phiếu, chứng chỉ quỹ đầu t− và trái phiếu) làm nền tảng. Nh− vậy sẽ bỏ qua một mảng lớn những chứng khoán phái sinh mà gốc không phải là chứng khoán nh− hợp đồng t−ơng lai, hợp đồng quyền chọn hàng hóa (gốc là hàng hóa), swaps. Theo khái niệm chứng khoán phái sinh của đề tài này thì khái niệm chứng khoán phái sinh rộng hơn, “cây gốc” ở đây không chỉ là cây mà nó có thể là nguồn khác nh− món đất trên một gò đá chẳng hạn, miễn là sinh ra một loại cây có một số đặc tính riêng… Trong tiếng Anh ng−ời ta cũng có hai từ riêng biệt: Derivative và devirative instrument, nh−ng họ cho hai là một (Derivative short for devirative instrument) và không phân biệt chứng khoán phái sinh và công cụ phái sinh. Theo quan điểm của đề tài này chúng ta nên phân biệt “ Công cụ phái sinh” và “ Chứng khoán phái sinh”. “Công cụ phái sinh” bao gồm nghĩa rộng hơn bao gồm tất cả các chứng khoán phái sinh theo định nghĩa trên đây. Còn “ chứng khoán phái sinh” chỉ nên định nghĩa cho một bộ phận của các công cụ phái sinh, công cụ đ−ợc, hoặc có thể đ−ợc giao dịch tại thị tr−ờng chứng khoán tập trung. Theo quan niệm này chúng ta sẽ đ−a ra định nghĩa dề hiểu hơn, đơn giản hơn về chứng khoán phái sinh : Định nghĩa đơn giản về chứng khoán phái sinh: Chứng khoán phái sinh là một loại chứng khoán đặc biệt, bao gồm: - Quyền mua cổ phiếu (right) - Chứng quyền (warrant) - Hợp đồng t−ơng lai (Futures) - Hợp đồng quyền chọn (Option) - Chứng khoán phái sinh khác Các chứng khoán này đ−ợc hay có thể đ−ợc giao dịch tại thị tr−ờng chứng khoán tập trung Thực tế quyền mua cổ phiếu và chứng quyền đều là hợp đồng quyền chọn mua cổ phiếu. Việc mua cổ phiếu ở đây không bắt buộc 20 1.2. Phân loại và đặc điểm của chứng khoán phái sinh Chúng ta hiểu chứng khoán phái sinh theo nh− định nghĩa theo nghĩa hẹp trên đây. Tr−ớc tiên nó phải là chứng khoán và sau đó thỏa mãn thêm các điều kiện về đặc tính là xuất phát từ một tài sản cơ sở và giá trị của nó phụ thuộc vào giá trị tài sản cơ sở. Chứng khoán phái sinh trong quan niệm hẹp của đề tài này là chỉ những công cụ phái sinh đ−ợc hoặc có thể đ−ợc giao dịch trên thị tr−ờng chứng khoán tập trung. Sau đây chúng ta hãy xem xét một số chứng khoán phái sinh điển hình nhất và đang đ−ợc giao dịch rất sôi động trên thị tr−ờng chứng khoán của các n−ớc trên thế giới, Nó cũng có khả năng phát triển nhanh trong t−ơng lai ở n−ớc ta khi nền kinh tế thị tr−ờng và tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của ta đi vào quỹ đạo phát triển. - Hợp đồng kỳ hạn - Hợp đồng t−ơng lai (Futures) - Hợp đồng quyền chọn (Option) - Quyền mua cổ phiếu (right) - Chứng quyền (warrant) - Một số chứng khoán phái sinh khác Về bản chất hợp đồng kỳ hạn và hợp đồng t−ơng lai rất giống nhau. Có thể nói hợp đồng kỳ hạn là cha đẻ của hợp đồng t−ơng lai, hợp đồng kỳ hạn là chứng khoán có tr−ớc và do mặt hạn chế của nó nh− khó tìm đối tác trong việc ký hợp đồng, rủi ro trong thanh toán, giao hàng, khả năng chuyển nh−ợng…vv nên hợp t−ơng lai đã ra đời và phát triển. Hợp đồng kỳ hạn và hợp đồng t−ơng lai có một số điểm khác nhau trong thao tác kỹ thuật. Sau đây, chúng ta sẽ làm rõ bản chất và đặc điểm của từng loại chứng khoán phái sinh kể trên thông qua các ví dụ cụ thể. Để dễ hiểu các cộng tác viên của đề tài đã cố gắng lấy các ví dụ Việt Nam hoá và trình bày theo cách hiểu của riêng mình, không chỉ dịch thuật, sao chép rập khuôn, khó hiểu. 1.2.1. Hợp đồng kỳ hạn (Forwards) Hợp đồng kỳ hạn (Forward) là hợp đồng thoả thuận tr−ớc để mua hoặc bán một l−ợng tài sản, chứng khoán (chứng khoán cũng là một loại tài sản) tại một thời điểm nhất định trong t−ơng lai với một mức giá xác định tr−ớc. Hợp đồng kỳ hạn là một loại công cụ phái sinh. Hợp đồng kỳ hạn Forward khác với loại hợp đồng giao ngay, khi hợp đồng giao ngay là sự thoả thuận mua hoặc bán một tài sản vào ngày hiện tại. Trong tr−ờng hợp hợp đồng kỳ hạn thì một bên đối tác sẽ ở vào “vị thế mua” khi đồng ý mua một tài sản cơ 21 sở vào một thời điểm nhất định trong t−ơng lai với một mức giá nhất định. Bên đối tác còn lại sẽ ở vào “vị thế bán”, tức là đồng ý bán tài sản vào ngày nói trên và với mức giá nói trên. Giá quy định trong hợp đồng kỳ hạn đ−ợc gọi là “giá giao hàng”. Thông th−ờng ng−òi ta dùng hợp đồng kỳ hạn để phòng tránh rủi ro. Hợp đồng kỳ hạn khác với hợp đồng t−ơng lai ở thời điểm giao hàng, hợp đồng kỳ hạn quy định thời điểm cụ thể cho việc giao hàng, còn hợp đồng t−ơng lai thì thời gian th−ờng đ−ợc quy định vào một hoặc một số khoảng thời gian và một số điểm khác sẽ liệt kê sau. Ví dụ 2- Tôi cần 15 000 US$ vào ngày 15/11/2004 cho một mục đích nào đó, để đề phòng tỷ giá có thể tăng cao tôi ký một hợp đồng kỳ hạn 6 tháng vào 15/5 với một Ngân hàng, theo đó tôi sẽ mua 15 000 $ từ Ngân hàng này vào ngày tôi cần tiền là 15/11 với giá là 15800đ/1$. Nh− vậy tôi ở vị thế “ mua” và Ngân hàng ở vị thế “ bán”. Giá 15800đ/1$ là “ giá kỳ hạn” 6 tháng và cũng là “ giá giao hàng “ khi đến hạn thực hiện hợp đồng. Có nhiều yếu tố quyết định giá kỳ hạn, nh−ng thời gian là một trong những yếu tố quan trọng. Đến ngày 15/11 tôi buộc phải thực hiện hợp đồng và phải mua 15 000$ theo giá đã thỏa thuận là 15800đ/1$ cho dù tỷ giá thị tr−ờng vào ngày đó nh− thế nào. Ví dụ vào ngày đó tỷ giá thị tr−ờng cao hơn 15800đ/$ thì tôi đ−ợc lợi vì tôi cần bỏ ít tiền việt hơn để có 15000$ so với phải mua tại thị tr−ờng giao ngay không theo hợp đồng kỳ hạn. Nếu tỷ giá thấp hơn 15800 đ/$ thì ngân hàng đ−ợc lợi vì họ đ−ợc bán cho tôi theo hợp đồng với giá cao hơn nếu nh− họ bán ra thị tr−ờng giao ngay. Vấn đề quan trọng ở đây là tôi có thể kế hoạch hóa hay biết tr−ớc để chuẩn bị l−ợng tiền mặt cần thiết để mua $ và phòng tránh đ−ợc rủi ro. Đây cũng là tác dụng cơ bản và quan trọng của công cụ phái sinh này. Trong tài liệu (2)12 trang 2 có ví dụ sau : Tỷ giá ngoại tệ kỳ hạn và giao ngay đối với đồng sterling, ngày 8/5/1995 Biểu 1.2 : Giá kỳ hạn và giao ngay của sterling Giao ngay 1.6080 Kỳ hạn 30 ngày 1.6076 Kỳ hạn 90 ngày 16056 Kỳ hạn 180 ngày 1.6018 Qua ví dụ trên ta thấy nếu kỳ hạn càng ngắn thì giá kỳ hạn càng cao, kỳ hạn càng dài thì giá càng thấp, bởi vì rủi ro của khoản đầu t− càng dài thì càng lớn và tất nhiên giá cả của nó phải hạ hơn. Nếu gọi giá giao ngay vào thời điểm đáo hạn hợp đồng là S và giá kỳ hạn là E, thì có thể xẩy ra ba tr−ờng hợp : 12 John C. Hull –Options, Futures and other derivatives- University of Toronto 1997 22 a) S > E- Trong tr−ờng hợp này ng−ời có vị thế mua quyền mua có lợi là S - E cho mỗi đồng ngoại tệ b) S < E - Ng−ời có vị thế bán quyền mua có lãi là E - S cho mỗi đồng ngoại tệ c) S = E - Không có ai thua và thiệt. Tr−ờng hợp này rất ít._. xẩy ra. Trong trò chơi này nhìn chung có ng−ời thắng và ng−ời thua, hay ng−ời lãi và ng−ời lỗ. Tổng của chúng phải bằng không. Tuy nhiên trò chơi này vẫn rất có ý nghĩa là phòng tránh đ−ợc rủi ro, tạo thế chủ động cho ng−ời chơi nh− đã phân tích trong ví dụ ở trên. Bên cạnh đó có nhiều ng−ời không vì mục đích phòng ngừa rủi ro nh− bản thân nguyên nhân gốc cỗi đẻ ra chính chứng khoán phái sinh mà họ lợi dụng chúng để kinh doanh kiếm lời thậm chí đầu cơ chúng. Đây cũng là cơ hội tạo ra trò chơi, tạo việc làm cho nhiều ng−ời và tạo ra sự sôi động cho thị tr−ờng chứng khoán phái sinh. Xét trên ph−ơng diện toàn xã hội, thị tr−ờng chứng khoán phái sinh cấp hai có rất nhiều điểm tích cực, ví dụ nh− giúp cho chứng khoán phái sinh có khả năng l−u thông tốt hơn, tạo khả năng thanh khoản hơn giúp việc đổi chủ hợp đồng đễ hơn, khả năng cung ứng hàng hoá, dịch vụ đa dạng hơn và nh− vậy tạo điều kiện thuận lợi cho thị tr−ờng sơ cấp phát triển tốt hơn. Tuy nhiên, cũng nh− chứng khoán nói chung chứng khoán phái sinh cũng chứa đựng những yếu tố tiêu cực, nh− nạn đầu cơ, trục lợi và bản thân thị tr−ờng chứng khoán phái sinh mang tính “ đánh bạc” nhiều hơn chứng khoán thông th−ờng. Hợp đồng kỳ hạn(t−ơng lai) mua, bán cổ phiếu Sau đây chúng ta hãy xem xét bản chất của hợp đồng kỳ hạn mua, bán cổ phiếu qua ví dụ sau đây. Ví dụ 3: Giả sử giá hiện tại của một lô cổ phiếu AGF là 400 000đ/lô và lãi suất không có rủi ro đối với đầu t− trong năm tr−ớc đó là 7%/ 1 năm. Vậy thì giá trị hợp lý của giá kỳ hạn 1 năm của lô cổ phiểu này bao nhiêu? Đầu tiên hãy giả định rằng giá kỳ hạn 1 năm là 440000đ/ 1lô. Ng−ời giao dịch chứng khoán có thể có hành động sau: 1. Vay 400000đ trả lãi 7% trong 1 năm 2. Mua 1 lô cổ phiếu AGF 3. Tham gia vào hợp đồng kỳ hạn “vị thế bán”, để bán với giá 440000đ sau 1 năm. Lãi suất phải trả cho việc vay 400000đ là 28000$. Ng−ời giao dịch, do vậy, có lợi nhuận là 120000đ . Bất kỳ giá kỳ hạn 1 năm nào lớn hơn 428000đ đều làm cho chiến l−ợc giao dịch trên có lãi. (giả sử chúng ta bỏ qua phí giao dịch và quyền lợi khác nh− quyền lợi nhận cổ tức) 23 Hãy giả định tiếp tục rằng giá kỳ hạn một năm của lô cổ phiếu AGF là 380000đ/lô (ở đây chúng ta cũng giả sử chúng ta bỏ qua phí giao dịch và quyền lợi khác nh− quyền lợi nhận cổ tức). Một ng−ời đầu t− có một danh mục đầu t− trong đó có cổ phiếu AGF có thể: 1. Bán cổ phiếu với giá 400000đ/lô 2. Đầu t− để có lãi suất 7% 3. Tham gia vào hợp đồng kỳ hạn “ vị thế mua” để mua cổ phiếu AGF sau 1 năm với giá 380000đ/lô. Tổng số tiền lãi gộp là 20000đ+ 7%x400000đ= 48000đ Trong bất kỳ tình huống nào, nơi có giá kỳ hạn thấp hơn 428000 đ, các nhà đầu t− nắm giữ cổ phiếu AGF đều có lợi khi bán cổ phiếu và tham gia vào hợp đồng kỳ hạn “ vị thế mua” theo cách vừa trình bày. Chiến l−ợc đầu t− đầu tiên sẽ có lợi khi giá kỳ hạn 1 năm của cổ phiếu AGF cao hơn 428000đ/lô. Vì có rất nhiều ng−ời giao dịch muốn tận dụng cơ hội này, nên nhu cầu về các hợp đồng kỳ hạn “ vị thế bán” sẽ tăng và giá kỳ hạn 1 năm của cổ phiếu AGF sẽ rơi xuống. Chiến l−ợc thứ hai sẽ có lợi đối với những ng−ời đầu t− giữ AGF trong danh mục đầu t− của mình khi giá kỳ hạn 1 năm của cổ phiếu AGF thấp hơn 428000đ/lô. Vì những ng−ời đầu t− cố gắng tận dụng lợi thế này nên cầu về hợp đồng kỳ hạn “ vị thế mua ” sẽ tăng và giá kỳ hạn 1 năm của cổ phiếu AGF sẽ tăng lên. Giả thiết rằng các cá nhân sẽ luôn muốn tận dụng lợi thế cơ hội chênh lệch giá khi giá tăng, chúng ta có thể kết luận rằng những hành vi của các nhà giao dịch sẽ làm cho giá kỳ hạn 1 năm của cổ phiếu AGF tiến đến giá trị chính xác là 428000đ/lô. Nếu hình thành ở bất kỳ một giá nào khác cũng sẽ dẫn tới cơ hội kinh doanh chênh lệch giá. Quy luật cung cầu về hợp đồng kỳ hạn sẽ điều tiết để giá kỳ hạn luôn h−ớng tới giá trị của nó là 428000đ/lô. Tuy nhiên giá này (428000 đ) là giá giao hàng (hay giá thực hiện), còn giá thực tế t−ơng lai của hàng hoá đó (cổ phiếu) hình thành ra sao còn là một ẩn số. Mức giá thực tế trong t−ơng lai của cổ phiếu sẽ quyết định mức lãi trong phi vụ làm ăn này và chính vì thế nó sẽ quyết định phần lớn giá hợp đồng t−ơng lai. Với suy luận nh− vậy, giá trị của hợp đồng t−ơng lai cũng là một ẩn số không ai có thể dự báo chính xác đ−ợc. 1.2.2. Hợp đồng t−ơng lai (Futures) Hợp đồng t−ơng lai là một hợp đồng thoả thuận tr−ớc để mua hay bán một l−ợng tài sản, hàng hoá hoặc một khoản tài sản tài chính tại một mức giá cố định vào một thời gian trong t−ơng lai. Các hợp đồng t−ơng lai có từ rất sớm khi thị tr−ờng sản phẩm nông nghiệp cần đ−ợc bảo vệ khỏi rủi ro. Ng−ời nông dân đã có hợp đồng theo ngôn ngữ Việt nam là “ bán lúa non”, “bán cà phê non”, “ bán nhãn, vải non”..vv. Đó là những hợp đồng ký tr−ớc thoả thuận họ sẽ bán sản phẩm 24 của mình cho nhà máy chế biến nông sản chẳng hạn và giao hàng trong khoảng thời gian nào đó khi đến mùa thu hoạch và với giá thoả thuận tr−ớc. Nếu đến khi giao hàng giá thị tr−ờng thực tế thấp hơn giá thoả thuận trong hợp đồng thì ng−ời nông dân đ−ợc h−ởng lợi và nhà máy chịu thiệt. Tr−ờng hợp ng−ợc lại thì nhà máy đ−ợc lợi và ng−ời nông dân bị thiệt khi giá thị tr−ờng cao hơn giá thoả thuận trong hợp đồng t−ơng lai. Trong thực tế ở Việt nam, trong tr−ờng hợp ng−ời nông dân bị thiệt so với hợp đồng thì vì tâm lý sản xuất nhỏ, t− hữu nên nhiều ng−ời đã phá hợp đồng và bán sản phẩm của mình ra ngoài để kiếm lời. Đây là một trong những vấn đề làm đau đầu của các nhà máy chế biến rau quả ở n−ớc ta hiện nay. Thị tr−ờng hợp đồng t−ơng lai đã hoạt động trong hơn cả thế kỷ để giao dịch các sản phẩm nông nghiệp và các loại hàng hoá khác và sau đó thị tr−ờng này đã mở rộng quy mô của chúng để giao dịch các hợp đồng về tài sản tài chính (nh− tiền tệ hoặc trái phiếu). Sau đó, vào những năm 80, chúng đã xuất hiện giao dịch các hợp đồng t−ơng lai đối với các chỉ số của thị tr−ờng cổ phiếu, trái phiếu. Hợp đồng t−ơng lai đối với loại chỉ số cổ phiếu phổ biến nhất chính là loại chỉ số S&P 500. Hợp đồng này giao dịch trên Sở giao dịch phương pháp đầu tư quyền chọn nhị phân hàng hoá Chicago (CME) và một mình nó chiếm lĩnh trên ba phần t− các giao dịch về hợp đồng t−ơng lai các chỉ số. T−ơng tự nh− hợp đồng kỳ hạn, hợp đồng t−ơng lai là một thoả thuận giữa hai bên để mua hoặc bán một tài sản tại một thời điểm nhất định trong t−ơng lai với một mức giá xác định. Khác với hợp đồng kỳ hạn, hợp đồng t−ơng lai th−ờng đ−ợc giao dịch tại các sở giao dịch. Để tạo điều kiện cho giao dịch, sở giao dịch quy định chuẩn hoá những thời điểm t−ơng lai cho hợp đồng. Vì hai bên đối tác giao dịch không nhất thiết phải biết nhau, nên các sở giao dịch cung cấp một cơ chế đảm bảo rằng hợp đồng sẽ đ−ợc tôn trọng thực hiện. Khác với quyền chọn về chỉ số cổ phiếu, hợp đồng t−ơng lai về loại này quy định một nghĩa vụ (không chỉ là quyền chọn nữa) giao hoặc nhận một số tiền mặt t−ơng đ−ơng với một danh mục cổ phiếu. Trong khi các quyền chọn chỉ số cổ phiếu chỉ cho ng−ời nắm giữ nó biết khả năng thua lỗ đối với việc mua hay bán các quyền chọn thì hợp đồng t−ơng lai về chỉ số cổ phiếu lại chứa đựng rủi ro không giới hạn. Vì vậy, các nhà đầu t− cá nhân có xu h−ớng giao dịch các quyền chọn (khi mà rủi ro và doanh thu ít hơn), trong khi đó các nhà đầu t− có tổ chức lại có xu h−ớng giao dịch các hợp đồng t−ơng lai. Khác với các hợp đồng hàng hoá khác, hợp đồng t−ơng lai chỉ số cổ phiếu không đ−ợc thanh toán d−ới dạng vật chất, nh−ng lại thanh toán bằng tiền mặt. Vì vậy, các bên đối tác chỉ cần thực hiện đặt một khoản tiền tính theo giá trị t−ơng lai của chỉ số đó vào ngày đáo hạn. Tại Mỹ, các sở giao dịch lớn nhất có giao dịch hợp đồng t−ơng lai là Chicago Board of Trade (CBOT) và Sở giao dịch hàng hoá Chicago (CME). Tại 25 những địa điểm này và trên các sở giao dịch khác, có rất nhiều hàng hoá và tài sản tài chính đ−ợc dùng làm tài sản cơ sở trong các hợp đồng t−ơng lai. Hàng hoá này bao gồm: dạ dày lợn, súc vật, gỗ xẻ, đ−ờng, len, đồng, nhôm, vàng, thiếc… Các tài sản tài chính bao gồm cổ phiếu, chỉ số cổ phiếu, tiền tệ và trái phiếu chính phủ các loại. Có một điểm khác của hợp đồng t−ơng lai với hợp đồng kỳ hạn, đó là ngày giao hàng chính xác th−ờng không quy định cụ thể. Hợp đồng đ−ợc xác định bởi tháng giao hàng và sở giao dịch quy định khoảng thời gian trong tháng cần phải thực hiện giao hàng. Đối với hàng hoá, thời kỳ giao hàng th−ờng là cả tháng. Ng−ời nắm giữ “vị thế bán” có quyền lựa chọn thời gian giao hàng trong khoảng thời gian quy định. Thông th−ờng, hợp đồng có thời gian giao hàng vài tháng đ−ợc giao dịch vào bất kỳ thời điểm nào. Sở giao dịch sẽ quy định l−ợng tài sản phải giao cho mỗi hợp đồng và giá t−ơng lai đ−ợc báo nh− thế nào. Trong tr−ờng hợp hàng hoá, sở giao dịch cũng sẽ quy định tiêu chuẩn sản phẩm và vị trí giao hàng. Ví dụ 4 : Hợp đồng t−ơng lai lúa mỳ th−ờng đ−ợc giao dịch tại Chicago Board of Trade (CBOT). Quy mô hợp đồng th−ờng là 5000 tấn. Giả sử hợp đồng cho 4 tháng giao hàng là tháng 3, 5, 7 và 11, có kỳ hạn đến 18 tháng trong t−ơng lai. Sở giao dịch quy định chỉ tiêu về chất l−ợng lúa mỳ sẽ phải giao và địa điểm thực hiện giao hàng. Trong thời gian quy định trong hợp đồng hai bên buộc phải thực hiện hợp đồng. Nếu một trong hai bên không thực hiện đúng các điều khoản trong hợp đồng mà không có chấp thuận của bên kia thì sẽ bị phạt theo điều khoản phụ trong hợp đồng. Sở giao dịch là đơn vị hoà giải tranh chấp hợp đồng và nếu hoà giải không thành sẽ chuyển lên toà án kinh tế để giải quyết theo pháp luật. Tuy nhiên hai bên ký hợp đồng có thể thoả thuận thay đổi các điều khoản trong hợp đồng, thậm chí huỷ, bỏ hợp đồng. “Giá t−ơng lai” đ−ợc thông báo th−ờng xuyên trên ấn phẩm tài chính. Giả sử vào ngày 1/9, Giá t−ơng lai cho tháng 12 về vàng đ−ợc thông báo là 320$ / ouce (giá này không tính hoa hồng). Tại mức giá này các nhà giao dịch đồng ý mua hoặc bán vàng và giao hàng tháng 12. Mức giá thỏa thuận này đ−ợc xác định trên sàn của Sở giao dịch theo luật cung cầu trên thị tr−ờng. Nếu nhiều ng−ời giao dịch muốn có “vị thế mua” hơn là “vị thế bán”, giá sẽ tăng, nếu tr−ờng hợp ng−ợc lại, giá sẽ giảm. Chúng ta hãy tổng kết sự khác nhau của hợp đồng kỳ hạn và Hợp đồng t−ơng lai trong biểu sau: Biểu 1.3 - Sự giống nhau và khác nhau giữa hợp đồng kỳ hạn và hợp đồng t−ơng lai Các tiêu chuẩn Hợp đồng t−ơng lai Hợp đồng kỳ hạn 1. Việc thế chấp (ký quỹ) Có Không 2. Rủi ro giao hàng Không Có 3. Rủi ro thanh toán Không Có 26 4. Giá trị hợp đồng điều chỉnh theo thị tr−ờng Điều chỉnh hàng ngày Không 5. Giao dịch trên thị tr−ờng Giao dịch sôi động trên thị tr−ờng chứng khoán Hạn chế 6. Các điều khoản hợp đồng Đã tiêu chuẩn hoá Thực hiện theo quy −ớc của hai bên đối tác 7. Việc giao hàng Th−ờng không phải giao hàng (thanh toán theo kết quả chênh lệch lỗ hoặc lãi) Th−ờng là phải giao hàng 8. Thời điểm giao hàng Th−ờng quy định trong một hoặc một số khoảng thời gian Th−ờng có thời điểm cụ thể 9. Quy mô thị tr−ờng Rộng lớn, đại chúng và ng−ời mua, ng−ời bán không biết nhau Nhỏ bé, cá nhân và ng−ời tham gia hiểu biết lẫn nhau. 1.2.3. Quyền chọn (Options) Quyền chọn về cổ phiếu lần đầu tiên đ−ợc giao dịch trên sở giao dịch vào năm 1973. Kể từ đó đến nay thị tr−ờng quyền chọn đã phát triển rất nhanh. Quyền chọn hiện nay đ−ợc giao dịch tại rất nhiều sở giao dịch trên khắp thế giới. Những khối l−ợng quyền chọn lớn còn đ−ợc giao dịch trên thị tr−ờng phi tập trung giữa các ngân hàng và các tổ chức tài chính khác nhau. Tài sản cơ sở của quyền chọn bao gồm cổ phiếu, chỉ số cổ phiếu, ngoại tệ, chứng khoán nợ, hàng hoá và hợp đồng t−ơng lai. Có hai loại quyền chọn cơ bản. Quyền chọn mua cho phép ng−ời nắm giữ nó có quyền đ−ợc mua một luợng tài sản cơ sở vào một thời điểm nhất định hay trong khoảng thời gian nhất định đ−ợc quy định tr−ớc , với giá xác định tr−ớc . Quyền chọn bán cho phép ng−ời nắm giữ nó có quyền đ−ợc bán một l−ợng tài sản cơ sở vào một thời điểm nhất định hay khoảng thời gian nhất định, với giá xác định tr−ớc. Giá tài sản gốc đã thoả thuận trong hợp đồng đ−ợc gọi là giá thực hiện. Thời gian xác định trong hợp đồng đ−ợc gọi là thời gian đáo hạn. Có hai loại quyền chọn phổ biến trên thế giới, đó là : - Quyền chọn Mỹ có thể đ−ợc thực hiện vào bất kỳ thời điểm nào tr−ớc ngày đáo hạn. - Quyền chọn Châu Âu phải thực hiện vào ngày đáo hạn. Hầu hết các quyền chọn đ−ợc giao dịch trên các sở giao dịch là quyền chọn Mỹ, và mỗi hợp đồng th−ờng là thoả thuận mua 100 chứng khoán. Quyền chọn Châu Âu nói chung dễ phân tích hơn quyền chọn Mỹ, và một số loại bất động sản trong quyền chọn Mỹ th−ờng đ−ợc chuyển sang các đối tác của quyền chọn Châu Âu. 27 Chúng ta l−u ý rằng một quyền chọn sẽ cho phép ng−ời nắm giữ nó có quyền làm một việc gì đó, nh− vậy ng−ời nắm giữ không nhất thiết phải thực hiện quyền. Đây là đặc điểm riêng của quyền chọn và nó khác với hợp đồng t−ơng lai hay hợp đồng kỳ hạn – trong hợp đồng t−ơng lai hay hợp đồng kỳ hạn ng−ời tham gia hợp đồng có nghĩa vụ phải mua, bán tài sản cơ sở, tức là phải thực hiện các điều khoản cơ bản của hợp đồng. Một điểm nữa cũng đáng l−u ý là khi tham gia vào các hợp đồng t−ơng lai hoặc kỳ hạn thì các bên tham gia không phải giả phí nh−ng đối với hợp đồng quyền chọn thì phải có chi phí. Quyền chọn mua, bán cổ phiếu Quyền chọn mua, bán cổ phiếu ở Mỹ đ−ợc giao dịch phổ biến ở Chicago Boad Options Exchange (CBOE), Philadelphia Exchange(PHLX), Pacific Stock Exchange (PSE) và New York Stock Exchange (NYSE). Quyền chọn đ−ợc giao dịch trên 500 loại cổ phiếu ở Mỹ, loại cổ phiếu có hợp đồng quyền chọn nhiều nhất là IBM, General Motors và Kodak. Quyền chọn mua, bán cổ phiếu thông th−ờng thực hiện đôí với 100 cổ phiếu. Để hiểu khái niệm và bản chất của quyền chọn mua cổ phiếu chúng ta hãy xem ví dụ sau: Ví dụ 5 : Giả sử một ng−ời mua một hợp đồng chọn mua kiểu Châu Âu để mua cổ phiếu REE với giá thực hiện là 28000đ/cổ phiếu với số l−ợng là 1000 cổ phiểu trong thời hạn 3 tháng . Giả sử giá hiện tại của cổ phiếu REE là 28000đ, thời gian đáo hạn của quyền chọn là sau 3 tháng và giá mua quyền là 1000đ. Vì đây là quyền chọn Châu Âu, nên ng−ời mua quyền mua chỉ có thể thực hiện quyền vào ngày đáo hạn . Nếu giá cổ phiếu REE vào ngày đáo hạn giảm xuống d−ới 28000đ ng−ời giao dịch rõ ràng sẽ chọn cách không thực hiện quyền (chẳng có lý nào lại đi mua với giá 28000đ khi giá ngoài thị tr−ờng thấp hơn 28000đ). Trong những tr−ờng hợp này, ng−ời giao dịch sẽ chịu lỗ khoản đầu t− ban đầu là 1000x1000 = 1 triệu đ. Nếu giá cổ phiếu vào ngày đáo hạn cao hơn 28000đ, quyền sẽ đ−ợc thực hiện. Giả sử giá cổ phiếu Ree lúc đáo hạn là 31000đ. Bằng việc thực hiện quyền, ng−ời giao dịch sẽ mua 1000 cổ phiếu với giá 28000đ/1 cổ phiếu. Nếu số cổ phiếu này lại đ−ợc ngay lập tức bán ra thị tr−ờng, ng−ời giao dịch sẽ có lãi 3000đ/1 cổ phiếu, hay tổng số lãi là 3 triệu dồng (nếu bỏ qua chi phí giao dịch). Khi tính cả phần chi phí ban đầu để mua quyền, lãi ròng sẽ là 2000đ/1cổ phiếu, hay 2 triệu đồng tổng số. Trong ví dụ trên chúng ta đã giả sử giá hiện tai của cổ phiếu và giá thực hiện ở quyền chọn là nh− nhau (28000đ), nh−ng trong thực tế chúng không nhất thiết bằng nhau. Trong khi ng−ời mua “quyền chọn mua” hy vọng rằng giá cổ phiếu sẽ tăng, thì ng−ời mua “quyền chọn bán” hy vọng giá cổ phiếu sẽ giảm. Hãy xem xét một ng−ời mua một hợp đồng quyền chọn bán kiểu Mỹ để bán cổ phiếu Haphaco với giá thực hiện là 37000đ/1 cổ phiếu với số l−ợng là 1000 cổ phiếu. Giả thiết rằng giá hiện tại của cổ phiếu Haphaco là 36000đ/ 1cổ phiếu, thời gian đáo hạn quyền là 4 tháng, giá của mỗi quyền là 2000đ. Vì đây là quyền 28 chọn Mỹ, nên ng−ời bán đ−ợc thực hiện bất kỳ thời gian nào trong vòng 4 tháng kể từ khi hợp đồng có hiệu lực. Giả sử giá cổ phiếu tại một ngày nào đó trong vòng 4 tháng là 34000 đ và ng−ời mua quyền quyết định thực hiện quyền. Ng−ời mua quyền có thể mua 1000 cổ phiếu Haphaco với giá 34000đ/ 1 cổ phiếu và theo những điều kiện của hợp đồng quyền chọn bán, sẽ thực hiện bán những cổ phiếu này với giá 37000đ/ 1 cổ phiếu để thu lãi là 3000đ/ 1 cổ phiếu, hay lãi gộp là 3 triệu đồng và nếu trừ phí mua quyền là 2 triệu đồng thì lãi ròng là 1 triệu đồng. (chúng ta quy −ớc không tính đến chi phí giao dịch). Tất nhiên, nếu ng−ời có quyền bỏ qua một số cơ hội, khi giao dịch bị lỗ ít (giả sử nh− giá cổ phiếu trong khoảng 35000 đ Đầu tư vào thị trường chứng khoán luôn khiến phần đông mọi người cảm thấy e ngại và đầy rủi ro. Điều khác biệt giữa người thành công và thất bại chính là những nguyên tắc đúng đắn trong đầu tư. Nhà đầu tư cần biết mười nguyên tắc của những nhà đầu tư vĩ đại nhất, áp dụng đúng nguyên tắc để đạt được thành công trên TTCK.

Tài khoản bị giảm ½: Nếu tài khoản bị thâm hụt ½ thì bạn phải kiếm được 100% lợi nhuận để bù lỗ cho 50% bị thâm hụt. Nếu bạn cứ tiếp tục bị thâm hụt thì rất khó lấy lại những gì đã mất. Việc cần làm trước tiên là đóng ngay lệnh. Sau đó truy xuất lịch sử những lệnh trước đó để xem đều gì đã xảy ra.

cách mở tài khoản thực

Về chiến thuật thì tuỳ các bạn, có rất nhiều chiến thuật trên youtube, các bạn lên đó tra “quyền chọn nhị phân” có cả đống. Nhưng tựu chung lại là các chiến thuật chỉ đúng khi đường trend đẹp, còn phương pháp đầu tư quyền chọn nhị phân lại thì sai tất. Vì vậy nó sinh ra 2 trường phái cho các bạn lựa chọn.

Giá đóng cửa tạo những đỉnh có giá trị giảm nhưng chỉ báo OBV cảnh báo khối lượng giao dịch tăng. Đây là cảnh báo sự đảo chiều làm tăng giá, bởi khi giá bắt đầu giảm dần thì khối lượng giao dịch cũng suy giảm mạnh nhưng đến khi giá bắt đầu tăng trở lại thì nhiều nhà đầu tư tham gia mua rất mạnh đưa khối lượng giao dịch tăng nhanh.

Cách chơi Pokemon Go sau đây sẽ giúp các bạn chưa kịp làm quen với Pokemon từ trước có thể nhanh chóng bắt nhịp cũng như hòa mình vào tựa game đang vô cùng “nóng bỏng” hiện nay. Nào hãy cùng chúng mình tìm hiểu cách chơi Pokemon GO cũng phương pháp đầu tư quyền chọn nhị phân như các điều cần chú ý sau khi tải Pokemon Go về điện thoại của mình nhé. Có những ứng dụng được rao bán hiện nay rất có ích cho trading và phân tích dữ liệu thị trường. Có lẽ bạn sẽ thấy việc sử dụng những ứng dụng này là hợp lí. Chúng được cài trong máy tính của bạn để thu thập và phân tích dữ liệu. Từ đó đưa ra các kết quả khả thi nhất.

Đánh giá bài viết: 4,83
Điểm tối đa: 5
Điểm tối thiểu: 4
Bỏ phiếu: 406
Số lượng đánh giá: 39

Để lại một câu trả lời

Email của bạn sẽ không được công bố. Các trường bắt buộc được đánh dấu *